Taøi chính- Ngaân haøng
thống NH nội địa.
Sự xâm nhập của các NH nước ngoài. Việc xâm nhập của các NH nước ngoài cùng với chính sách đóng cửa và tái cơ cấu NH đã mang lại những thay đổi quan trọng trong hệ thống NH. Đầu tiên, đó là kênh chính giúp tăng nguồn vốn trong tổ chức tín dụng mà NH nước ngoài có sở hữu cổ phần. Thứ hai, đó là việc thiết lập một NH mới có trình độ chuyên môn và KH – KT cao.
Như vậy, tái cơ cấu hệ thống NH tại Brazil được tiến hành dưới các hình thính chủ yếu là: sáp nhập, hợp nhất, mua lại giữa các TCTD; chuyển cổ phần kiểm soát của các NH gặp khó khăn và can thiệp của các NH nước ngoài.
Với bối cảnh nền Kinh tế lâm vào tình trạng làm phát như tại Brazil, đồng peso bị định giá quá cao, ảnh hưởng đến hoạt động NH. Chính phủ nước này cũng bắt tay vào tái cơ cấu hệ thống Ngân hàng từ năm 1995-1997, đặc biệt tập trung giải quyết nợ xấu toàn bộ hệ thống NH với sự can thiệp mạnh mẽ của Chính Phủ và sáp nhập, mua lại giữa các TCTD. Chính vì tái cơ cấu hệ thống Ngân hàng kịp lúc giúp Mexico tránh được khủng hoảng toàn hệ thống. Chính Phủ và Ngân hàng cùng chịu chi phí tái cơ cấu. Gíup tăng nguồn vốn Ngân hàng lên 12 % so với trước khi khủng hoảng.
Ngân hàng phát hành giấy tờ có giá để bán các khoản nợ.
Các tổ chức chính phủ có trách nhiệm giải quyết các NH không trả được nợ( FOBAPPROA) mua lại các khoản nợ của NH bằng cách các khoản nợ được chuyển thành Cổ phiếu thường và được mua lại ngay để Ngân hàng có thể khôi phục lại tỷ lệ vốn.
Chính Phủ thông qua FO- BAPROA, hỗ trợ cho các NH để giải quyết nợ xấu và cơ cấu lại nguồn vốn:
Chính phủ mua lại nợ xấu từ NH theo giá thị trường và chịu các điều kiện mà cổ đông đưa vào cơ cấu nguồn vốn mới. Theo đó, cứ một peso mua lại 2 peso trong các khoản vay của NHTM
Chính phủ mua lại nợ xấu bằng kỳ phiếu được phát hành bởi FO- BAPROA. Đây là các giấy nợ với lãi coupon bằng 0, kỳ hạn dài( khoảng 10 năm)
NH tạo ra tài sản đặc biệt ngoại bảng cho khoản nợ xấu của họ. Thu nhập phát sinh từ các khoản thanh toán của người mắc nợ trong các khoản vay được sử dụng để hủy bỏ kì phiếu với giá trị tiền tương đương.
Khi kỳ phiếu FOBAPROA đến hạn, số tiền không thu hồi được từ nợ xấu tạo ra 1 sự mất mát. Một nguyên tắc, Ngân hàng sẽ chịu 20- 30 % khoảng mất mát đó, phần còn lại CP chịu.
Chuỗi chương trình hỗ trợ của CP bắt đầu thực hiện từ đầu năm 1995. Khởi đầu là 2 chương trình ưu tiên thực hiện để ngăn chặn tình trạng mất giá đồng peso ngày càng lan mạnh và giữ tỉ lệ vốn của Ngân hàng trên mức tối thiểu.
Các chương trình hỗ trợ của CP bao gồm:
Chương trình hỗ trợ vốn tức thời, bắt đầu từ cuối năm 1994 đến tháng 6 / 1997
Chương trình hỗ trợ cho Ngân hàng, thực hiện từ cuôi năm 1994 đến tháng 8 / 1997
Chương trình hỗ trợ cho những người mắc nợ Ngân hàng, bắt đầu thực hiện từ tháng 9 / 1995 đến cuối năm 1998.
Bài học kinh nghiệm
Như vậy, với bối cảnh nền Kinh tế lạm phát trầm trọng và có nguy cơ khủng hoảng cao thì với việc can thiệp đúng lúc của CP đã giúp hệ thống NH tại hai nước này có sự phục hồi và phát triển trở lại.
Bài học thứ nhất chính là tính minh bạch thông tin, điều này giúp đảm bảo hệ thống thanh toán hoạt động bình thường và bảo vệ niềm tin trong hệ thống NH nói chung, giúp giữ rủi ro đạo đức ở mức tối thiểu.
Bài học thứ hai chính là nguồn lực cho công cuộc cải tổ phải đủ mạnh. Qua tìm hiểu quá trình tái cơ cấu tại 2 nước trên ta thấy vai trò của Chính phủ rất quan trọng, một phần chính là nhờ nguồn lực mà CP đã bỏ ra để thanh toán nợ xấu, nếu nguồn lực ít thì việc giải quyết nợ xấu gặp khó khăn, gây trì trệ lộ trình tái cơ cấu
Bài học thứ ba là tận dụng nguồn lực của các TCTD nước ngoài khi xâm nhập vào hệ thống NH nội địa đồng thời nâng cao các chỉ tiêu an toàn vốn, hệ số kinh doanh để tăng tính cạnh tranh, tránh tình trạng NH trong nước bị các NH nước ngoài mua lại.
Nhận định chung
Nhìn chung có 3 hướng chính để tái cơ cấu ngân hàng mà các quốc gia trên áp dụng. Đó là thành lập công ty mua bán nợ xấu, quốc hữu hóa các NHTM rồi tiến hành tái cơ cấu bằng nguồn lực của nhà nước, tư nhân hóa các NHTM để sử dụng nguồn lực nước ngoài để tái cơ cấu. Mỗi phương pháp đều có ưu nhược điểm riêng, nhưng nếu biết cách vận dụng linh hoạt sao cho phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội đặc thù của từng quốc gia thì sẽ mang lại hiệu quả cao.
Tất nhiên rút ra bài học thì dễ, thực hiện được và thành công như các quốc gia trên là không đơn giản chút nào. Mỹ đã không dám dũng cảm quốc hữu hóa Bear Stearns, Citigroup. Ireland, Iceland đã rơi vào vũng lầy nợ nần vì bảo đảm toàn bộ hệ thống ngân hàng. Châu Âu không thể vực dậy nền kinh tế vì ECB không linh hoạt trong chính sách tiền tệ. Anh vẫn loay hoay với chính sách tài khóa thắt lưng buộc bụng. Nhưng nói vậy không có nghĩa Việt Nam không cần tham khảo và học hỏi những gì Thụy Điển đã thành công.
Một kế hoạch tái cơ cấu hệ thống NH có sự tham gia của đồng vốn nhà nước cần tuân thủ theo nguyên tắc
Baûn tin SCUE. 17