Taøi chính- Ngaân haøng ra khỏi khủng hoảng nếu không có chính sách tỷ giá hợp lý đưa đồng krona về đúng giá trị của nó và sự trợ giúp thanh khoản đầy đủ của Riksbank cho hệ thống ngân hàng ở những thời điểm khó khăn. Một cơ chế bình ổn tài khóa tự động cũng giúp kinh tế Thụy Điển không rơi vào suy thoái quá sâu và giảm nhẹ gánh nặng kinh tế cho những người bị thất nghiệp. Hệ thống ngân hàng sau khi được tái cơ cấu cần phải được giám sát và quản lý rủi ro chặt chẽ nhằm tránh tăng trưởng tín dụng quá nóng và tích tụ quá nhiều nợ xấu là tiền đề của một cuộc khủng hoảng tiếp theo.
Bảng 1.1: Doanh thu của hệ thống NH trong thời kỳ lạm phát 1990-1995
Năm |
Theo GDP(%) |
Theo giá trị tăng thêm trong |
|
|
ngành NH(%) |
1990 4.0 35.7 1991 3.9 41.3 1992 4.0 41.9 1993 4.2 35.3
Tái cơ cấu hệ thống NH tại khu vực Mỹ La Tinh
Nền Kinh tế tại các nước thuộc Châu Mỹ Latinh lâm vào tình trạng khủng hoảng khi giá trị các đồng tiền bị đánh giá cao ảnh hưởng đến mức sống dân cư, đẩy lạm phát lên cao, gây khó khăn cho các hoạt động của Ngân hàng, nợ xấu tăng cao và có khả năng bùng nổ 1 cuộc khủng hoảng hệ thống Ngân hàng. Đứng trước tình trạng không mấy khả quan đó, Chính phủ và NHTW tại một số nước thuộc Châu Mỹ Latinh đã tiến hành tái cơ cấu hệ thống NH, điển hình là Brazil và Mexico.
Một trong những nước có mức lạm phát cao nhất chính là Brazil xuất hiện ngay từ những năm đầu thập niên 90, chính điều này đã tạo động cơ cho toàn bộ hệ thống Ngân hàng thu lợi từ sự tích lũy của lãi suất tiền gửi tương đối thấp.
Ngay khi nền Kinh tế kiềm chế được tình trang lạm phát, hệ thống NH vẫn chưa đề ra được các chính sách để duy trì lợi nhuận, gây ra tình trạng hoạt động khó khăn tại nhiều Ngân hàng. Hậu quả là nợ xấu NH gia tăng, cắt giảm nhân công.
Đối mặt với nguy cơ khủng hoảng, trong hai năm 1994-1995, Brazil đã thực hiện một cuộc cải cách hệ thống NH thành công, thực hiện các phương pháp tiếp cận toàn diện chuyển dịch cơ cấu Ngân hàng. Với sự can thiệp của Chính Phủ trong quá trình tái cơ cấu Ngân hàng nhà
16. Baûn tin SCUE nước và liên bang, đóng cửa nhiều tổ chức tín dụng( TCTD) và tận dụng hiệu quả sự xâm nhập của các TCTD nước ngoài tác động mạnh đến quá trình tái cơ cấu hệ thống NH tại quốc gia này, ngăn chặn 1 cuộc khủng hoảng hệ thống có khả năng bùng nổ.
Tái cơ cấu cả NH tư nhân và NH thuộc sở hữu nhà nước.
Bước đầu tiên của Chính phủ Brazil là sử dụng các can thiệp trực tiếp vào hệ thống NH, thanh lý giảm số lượng Ngân hàng.
Bước tiếp theo, được đánh dấu bằng việc tái cơ cấu các NH tư nhân và NH thuộc sở hữu nhà nước. Đặc trưng trong giai đoạn này là việc thực hiện hai chương trình PROER( Programme of Incentives for the Restructuring and Strength- ening of the National Financial System) vào tháng 11 năm 1995 và PROES( tương tự chương trình PROES, nhưng thực hiện cho các tổ chức thuộc sỡ hữu nhà nước) vào tháng 8 / 1996. Hai chương trình này nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và chuyển cổ phần kiểm soát của các NH gặp khó khăn. Hai mục tiêu chủ yếu là đảm bảo hệ thống thanh toán hoạt động bình thường và bảo vệ niềm tin trong hệ thống NH nói chung. Điều này giúp giữ rủi ro đạo đức ở mức tối thiểu.
Chương trình thúc đẩy tái cơ cấu và nâng cao hệ thống tài chính quốc gia – PROER( 1).
Chương trình PROER gồm 2 mô hình chính: áp dụng cho các NH lớn và các NH nhỏ / trung bình. Chương trình này tập trung vào xử lý các tài sản xấu tại các NH tốt và thanh lý các NH xấu. Các NH có quy mô vốn hiệu quả mua lại các TCTD hoạt động khó khăn. Sau chương trình PROER đã có một vài thương vụ sáp nhập và mua lại quan trọng diễn ra:
Chương trình thúc đẩy tái cơ cấu của hệ thống tài chính công cộng-PROES( 2).
Mục tiêu chính của chướng trình PROES là giảm vai trò của chính phụ trong hệ thống NH. Vấn đề chính là tại Brazil, các NH có sở hữu của nhà nước chiếm đa số, vì vậy cần có tính độc lập trong các tổ chức tín dụng. Nguyên tắc thực hiện là đảm bảo an toàn cho hệ thống thanh toán.
Với quan điểm giảm vai trò của NHNN trong hệ thống tài chính, CP liên bang mua lại các cổ phần kiểm soát của NH hoặc thanh lý các cổ phần đó, như vậy có sự chuyển giao cổ phần kiểm soát, các hoạt động còn lại thực hiện tương tự như chương trình PROER.
Kết quả khi thực hiện chương trình PROES là nhiều TCTD công cộng đã tái cơ cấu theo nhiều hướng đa dạng.
Khai thác tối đa lợi ích của các NH nước ngoài đem lại cho hệ