SCUE Magazine Số 2 Tháng 6 2013 | Page 17

Taøi chính- Ngaân haøng lại, sáp nhập, liên kết để hình thành những NH mạnh hơn như các nước châu Á đã làm.

Tái cơ cấu hệ thống Ngân hàng tại khu vực Châu Âu
Đầu thập niên 90, kinh tế châu Âu rơi vào cuộc khủng hoảng tiền tệ không chỉ ảnh hưởng đến đồng bảng Anh mà còn ảnh hưởng đến cơ chế tỷ giá hối đoái của châu Âu nói chung. Theo sau cuộc khủng hoảng tiền tệ là khủng hoảng kinh tế của các nước châu Âu: tổng sản lượng sụt giảm mạnh, lạm phát và thất nghiệp tăng cao và mất cân đối tài khóa, kinh tế gặp khó khăn, sản xuất đình trệ, dẫn đến nợ xấu của các ngân hàng tăng cao, kéo theo sự suy sụp của hệ thống Tài Chính – Ngân hàng và để vực dậy nền kinh tế đang gặp khủng hoảng thì biện pháp được nhiều quốc gia vận dụng là ưu tiên tái cơ cấu hệ thống NH bởi vì NH vốn là hệ thống tuần hoàn của dòng vốn, chỉ khi hệ thống ngân hàng được phục hồi thì nguồn vốn của thị trường sẽ lưu thông dễ dàng hơn, các hoạt động sản xuất sẽ được phục hồi một cách có hiệu quả hơn.
Đứng trước tình hình phải tái cơ cấu lại hệ thống NH thì mỗi quốc gia lại chọn cho mình những hướng đi khác nhau. Nếu như đa số các nước Tây Âu chọn chọn cách quốc hữu hóa các NH để giải quyết nợ xấu thì Đông Âu lại chọn cách tư nhân hóa hệ thống NHTM nhằm sử dụng các nguồn lực bên ngoài để tái cơ cấu NH. Tiêu biểu cho 2 khu vực trên là mô hình tái cơ cấu tại Thụy Điển( Tây Âu) và Hungary( Đông Âu)
Đối mặt với sự đổ vỡ NH hàng loạt, đầu năm 1992 Chính phủ Thụy Điển tuyên bố bảo đảm toàn bộ số vốn của người dân và doanh nghiệp gửi hoặc đầu tư trong hệ thống NH ngoại trừ vốn của giới chủ NH. Mặc dù biện pháp bảo đảm toàn bộ( blanket guarantee) này gây nhiều tranh cãi, có lẽ đó là giải pháp duy nhất Thụy Điển có thể lựa chọn ở thời điểm đó để ngăn ngừa sụp đổ dây chuyền. Sau khi trấn an thị trường bằng bảo đảm toàn bộ, Thụy Điển quốc hữu hóa và hợp nhất hai NH Gotabanken và Nordbanken, ở thời điểm đó không còn đủ vốn chủ sở

14. Baûn tin SCUE hữu theo luật định. Thụy Điển đã rất kiên quyết loại bỏ các cổ đông hiện hữu của hai NH này, giữ vững nguyên tắc các chủ ngân hàng phải chịu lỗ và mất vốn trước khi chính phủ rót tiền cứu trợ. Biện pháp mạnh tay này đã thúc đẩy các NHTM khác nhanh chóng tăng vốn chủ sở hữu, giảm bớt rủi ro cho toàn bộ hệ thống. Riêng với hai NH bị quốc hữu hóa, Thụy Điển tách số tài sản xấu ra khỏi bảng cân đối tài sản và giao cho hai công ty quản lý tài sản( AMC- asset management company) quản lý riêng. Hai AMC này hoạt động như một dạng quỹ đầu tư vốn( private equity fund), cấp vốn và quản lý những DN còn khả năng sinh lợi đồng thời lựa chọn thời điểm và khách hàng thích hợp để thanh lý những phần tài sản còn lại.

Đến năm 1997, các AMC đã hoàn thành cơ bản nhiệm vụ và được giải thể. Ngân hàng Nordbanken cũng dần dần được tư hữu hóa và đổi tên thành Nordea. Toàn bộ chi phí cho vụ giải cứu / cải tổ hệ thống ngân hàng này của Thụy Điển khoảng 4 % GDP nhưng sau khi tư hữu hóa Nordbanken và thanh lý AMC ngân sách Thụy Điển đã thu lại được gần như toàn bộ số tiền nói trên.
Nếu như Thụy Điển chọn cách quốc hữu hóa các NHTM yếu kém, sử dụng nguồn lực chủ yếu từ chính phủ để tái cơ cấu NH thì Hungary lại chọn cho mình một hướng đi hoàn toàn khác. Đó chính là việc sử dụng các nguồn lực từ nước ngoài để tái cơ cấu NH
NHTW Hungary ban hành hàng loạt các quy tắc hoạt động liên quan đến hoạt động NH, trong đó nổi bật là Luật Các tổ chức tín dụng năm 1991. Luật mới yêu cầu các NH phải có tỷ lệ an toàn tối thiểu 8 %; có quỹ dự phòng cho các khoản nợ xấu và khoản tín dụng bị nghi ngờ; đồng thời phải đáp ứng được yêu cầu về dự trữ bắt buộc. Điều này đã khiến một số NH sở hữu nhà nước đang đối mặt với các khoản nợ xấu phải tiến hành tư nhân hóa. CP tạo mọi điều kiện để hỗ trợ các NHTM tư nhân hóa bằng cách như: hỗ trợ xử lý nợ xấu trước khi tiến hành tư nhân hóa, nới lỏng các cơ chế hành chính để thu hút vốn nước ngoài đầu tư vào thị trường NH
Trước khi tiến hành tư nhân hóa, CP Hungary đã tiến hành 2 chương trình xử lý nợ xấu nối tiếp nhau trong vòng 1 năm. Chương trình hợp nhất nợ được đưa ra vào năm 1993, cho phép các NH chuyển các khoản nợ xấu hoặc nợ cũ sang trái phiếu CP với một phiếu thưởng tương đương trái phiếu kho bạc 90 ngày.
Năm 1994, hệ thống NH Hungary chính thức được tư nhân hóa với sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài thông qua các hoạt động mua quyền quản lý, đấu thầu trực tiếp và trong một vài trường hợp là phát hành cổ phiếu.
Về cơ bản, đến trước năm 1994, vấn đề nợ xấu trong hệ thống NH đã được CP Hungary giải quyết hiệu quả. Mặc dù vậy, cũng giống như các nền kinh tế chuyển đổi khác, hệ thống NH và nền kinh tế thị trường mới được thành lập tại Hungary lại phải đối mặt với một bài toán khó: thị trường thiếu tính cạnh tranh, thiếu vốn trầm trọng và công nghệ lạc hậu. Lúc này, CP Hungary nhận ra sự cần thiết của nguồn lực bên ngoài và đi đến một quyết định quan trọng là mở cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài.
Để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào hoạt động NH, năm 1996, CP Hungary đã tự do hóa hơn luật NH theo hướng khuyến khích sự tham gia của phía nước ngoài và không áp đặt giới hạn cổ phần.
Chính sách ưu đãi các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài đã thu được nhiều lợi ích, không chỉ bởi vì các NH Hungary đã được mua bởi các nhà sở hữu giàu có và nhiều kinh nghiệm, mà còn bởi nó ngăn chặn sự xuất hiện của việc sở hữu cổ phần chồng chéo và các xung đột lợi ích.
Song song với quá trình mở rộng mạng lưới hoạt động, dần thích nghi với cấu trúc NH, Hungary đã thành lập một cơ quan giám sát tài chính duy nhất, điều chỉnh các quy định NH tương thích với các quy định của Liên minh châu Âu( EU), Liên minh kinh tế và tiền tệ châu Âu( EMU) và